CÔNG TY TNHH TƯ VẤN VÀ ĐÀO TẠO
CHẤT LƯỢNG VIỆT
Dịch vụ / Tin chuyên ngành  

HACCP và quản lý chất lượng thủy sản Yêu cầu báo giá

“Phương thức phòng ngừa thay vì kiểm tra sản phẩm cuối” được nêu ra lần đầu vào năm 1930 với tên gọi là nguyên lý Prescott-Meyer-Wilson. Năm 1974, phương thức này được Bauman định nghĩa và gọi tên là HACCP, gần 60 năm sau, nó được triển khai trong thực tế trên khắp thế giới. Năm 2015 đánh dấu 25 năm HACCP vào Việt Nam, cũng là năm Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn lấy làm năm an toàn vệ sinh thực phẩm

Sơ qua về sự ra đời và áp dụng của HACCP

Đầu thập niên 1980, hai vấn đề gọi là nóng bỏng nhất trong các hệ thống kiểm soát thực phẩm Hoa Kỳ là Thanh tra chất lượng và Ý niệm (concept) HACCP. Quốc hội Hoa Kỳ đã yêu cầu Nha Ngư nghiệp Quốc gia (National Marine Fisherries Service, viết tắt là NMFS) triển khai một Dự án có tên gọi là “Dự án Giám sát thủy sản mẫu” (Model Seafood Surveillance Project, viết tắt là MSSP) nhằm thiết kế một chương trình Thanh tra thuỷ sản bắt buộc dựa trên tiếp cận HACCP. Công việc được triển khai với sự hợp tác của FDA và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Kết luận của dự án được Viện Hàn Lâm Khoa học nước này (NAS) đúc kết để đưa ra các khuyến cáo chính thức về đổi mới quản lý.

Theo Dự án trên thì những mối nguy đối với người tiêu dùng đến từ ba nguồn chính: Vệ sinh nhà xưởng, vệ sinh thực phẩm và gian lận trong thương mại. Vì vậy hệ thống HACCP được thiết kế phải bao gồm tất cả các yếu tố khắc phục rủi ro từ cả ba nguồn ấy để tránh được tất cả các mối nguy cho người tiêu dùng.

Mọi yếu tố liên quan đến độ an toàn của thuỷ sản đều được xem xét khách quan và tỉ mỉ. Chúng được phân thành các nhóm theo xuất xứ: Từ môi trường, từ chế biến, từ lưu thông phân phối và từ trong cộng đồng người tiêu dùng. Mỗi nhóm lại được chia nhỏ ra hơn.

haccp và quản lý chất lượng thủy sản

Tiếp cận HACCP đã được Quốc hội Hoa Kỳ giao áp dụng đối với Nghề cá nước này vào cuối những năm cuối 1980. Thời gian này ở Canada cũng có đề xuất áp dụng một hệ thống quản lý chất lượng hải sản theo các chương trình quản lý chất lượng (QMP) dựa vào HACCP.

Chỉ trong mấy năm sau, HACCP đã được áp dụng phổ biến trong nhiều nước, nhất là ở Châu Âu và Bắc Mỹ. Thị trường Châu Âu nhất thể hoá đã sớm thống nhất việc áp dụng HACCP rất tiện lợi cho tìm sự tương đồng về tiêu chuẩn giữa các nước thành viên và cho việc ký các ghi nhớ (MOU) uỷ thác thanh kiểm tra với các quốc gia bên ngoài.

Tiếp cận HACCP đã được lồng ghép vào hệ thống tiêu chuẩn ISO lần đầu tiên trong Tiêu chuẩn ISO 9001, về sau này thành cốt lõi của ISO 22000 (Tiêu chuẩn này đã dịch chuyển vào Việt Nam và phiên bản gần đây là TCVN 22000:2005).

Như vậy là, ngược hẳn với phương thức trước đây, dựa vào kiểm tra sản phẩm cuối và tiến hành thanh tra theo nguyên tắc truy ngược (retrospective) bây giờ là thực thi một chiến lược phòng ngừa, hay ngăn chặn (preventive) khi áp dụng HACCP dựa trên sự phân tích kỹ lưỡng các điều kiện chi phối quá trình hình thành sản phẩm. Cách nghĩ và làm đó cho một phương thức mới an toàn hơn mà chi phí lại thấp. Trong vi sinh vật, tiếp cận mới đó là kiểm soát tất cả các yếu tố liên quan tới sự lây nhiễm, sự tiềm phát và phát triển của các vi sinh vật trong thực phẩm trên mọi công đoạn của chuỗi sản xuất. Tiếp cận đó được gọi là Phân tích mối nguy và các điểm kiểm soát nóng (Hazard Analysis Critical Control Points), gọi tắt là tiếp cận HACCP. Nó áp dụng không chỉ cho các mối nguy vi sinh.

Chúng tôi muốn nói tới ưu thế lớn của hệ thống áp dụng HACCP là ở chỗ nó tạo ra một phương thức để chủ động bảo đảm an toàn chất lượng, chủ động ngăn chặn có tính hệ thống, có cấu trúc chặt chẽ, hợp lý và tổng hợp nhiều kiến thức.

HACCP vào Việt Nam cùng đổi mới và hội nhập

Thực hiện chủ trương đổi mới và hội nhập, đón những cơ hội mới về thị trường, HACCP đã được đưa vào Việt Nam với sự nỗ lực của ngành, sự khuyến khích của Nhà nước, sự hợp tác của cơ quan Tiêu chuẩn và quản lý chất lượng trong nươc, sự giúp đỡ, hợp tác của các tổ chức Quốc tế (UNDP, FAO, INFOFISH) và của những nước công nghiệp phát triển.

Tiếp thu và giai đoạn đầu áp dụng HACCP đã thực hiện theo từng bước một cách bài bản suốt trong những năm 1990. Đầu tiên là tham gia tích cực vào "Chương trình tập huấn quốc tế về bảo đảm an toàn chất lượng của thuỷ sản và sản phẩm thuỷ sản" trong khuôn khổ dự án UNDP/FAO số hiệu INT 90/026 10/1988- 01/1990. Sau đó,Trong hai năm 1991, 1992, Bộ Thủy sản đã chủ trì mở các lớp tập huấn trong nước về HACCP với số lượng người tham gia khoảng 300, bao gồm các nhà quản lý chất lượng thuỷ sản, trưởng ca, quản đốc các cơ sở sản xuất, cán bộ KCS và công tác tại các phòng thí nghiệm của doanh nghiệp chế biến khắp cả nước.

Quan hệ ngoại giao Việt Nam - EU được thiết lập cuối tháng 11/1990 và đến tháng 7/1995 hai bên ký “Hiệp định khung Hợp tác, thiết lập các nguyên tắc cơ bản nhằm thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai phía”. Nhất thể hóa thị trường thực phẩm Châu Âu về việc quy định áp dụng HACCP là một sự kiện quan trọng trong 5 năm này liên quan đến khung pháp lý và điều kiện thực tiễn để chúng ta hội nhập về quản lý chất lượng thủy sản với Châu Âu và không lâu sau đó mở rộng ra thị trường Bắc Mỹ cũng như các nơi khác. Hoa Kỳ  bình thường hóa quan hệ với Việt Nam năm 1995 cũng tạo ra cú hích mạnh cho sự mở rộng này.

Yêu cầu của EU lúc đó là: Các nước xuất khẩu cần quy định và thực thi các quy định an toàn chất lượng tương đương như các quy định tại EU (lấy HACCP là tiếp cận) và phải có một cơ quan quản lý chất lượng đủ thẩm quyền và năng lực (competent Authority). Năm 1994, Trung tâm An toàn chất lượng Thủy sản (NAFIQACEN) ra đời, cũng năm đó Thủy sản Việt Nam đã đứng một chân vào thị trường Châu Âu với 67 doanh nghiệp vào đó theo danh sách 2 (xuất vào và chỉ tiêu thụ ở nước đã nhập), rồi đến cuối thập niên 1990 đồng loạt vài chục doanh nghiệp đầu tiên vào danh sách 1 (hàng sau khi vào một nước thành viên có thể đi đến và tiêu thụ ở mọi nước  thành viên khác), rồi hàng trăm doanh nghiệp tiếp theo đó vào Châu Âu, Bắc Mỹ cũng như các quốc gia và châu lục khác một cách vững chắc.

HACCP tăng tính dân chủ trong quản lý

Ngoài những ưu thế về khoa học và kỹ thuật thì tính dân chủ trong quản lý là một đặc điểm lớn cần phải kể tới khi vận hành một hệ thống quản lý chất lượng cách tiếp cận và tư duy này.

Sự đồng hành của người kiểm soát chất lượng với người làm ra sản phẩm trong suốt quá trình sản xuất và tiêu thụ, vai trò chủ động của doanh nghiệp chế biến trong xây dựng và thực thi các GMP và QMP đã tạo ra sự bình đẳng và dân chủ đó. Đây là một yếu tố quan trọng liên quan đến đổi mới quản lý nhà nước và xã hội hóa các công việc quản lý.

Thực tế những năm áp dụng HACCP vào thủy sản, doanh nghiệp cùng với sự chủ động của mình có những tiếng nói trọng lượng trong công việc quản lý chất lượng ở tầm doanh nghiệp, ngành và cả quốc gia. Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) có vai trò hợp tác, phản biện và giám sát các công việc quản lý Nhà nước từ việc xây dựng và thực thi các quy định quản lý và kiểm soát chất lượng, nâng cao mức độ tin cậy của các chương trình bảo đảm vệ sinh và an toàn chất lượng thủy sản...

Tuy nhiên không phải là không có những khó khăn, khúc mắc và lúng túng khi vận hành hệ thống quản lý chất lượng kiểu này vào những sản phẩm cụ thể, cơ sở sản xuất cụ thể, một mô hình HACCP cụ thể.

Để có hiệu quả, HACCP phải được áp dụng từ khâu xuất xứ của thực phẩm, một việc khó, thậm chí bất khả thi nếu có sự yếu kém trong quản lý thị trường, tại cửa khẩu và manh mún, phân tán trong sản xuất ban đầu (tàu thuyền, bến cá, ao nuôi, giết mổ, mua bán...). Thực tế này đã dàn trải khá lớn sức lực và làm giảm đi hiệu quả của cơ quan quản lý.

Những nguyên lý HACCP có thể gắn kết dễ dàng vào các quy định về thủy sản cấp quốc gia, nhưng phải nhấn mạnh rằng HACCP liên quan đến tính đặc thù (Uniqueness) của sản phẩm và điều kiện làm ra sản phẩm, trong khi các văn bản pháp quy lại liên quan, các cơ quan chấp pháp lại đụng chạm đến các vấn đề chung (General), bao quát cho cả ngành, lĩnh vực.

Mặt khác, HACCP đòi hỏi nhà chế biến có trách nhiệm lớn hơn, tuy nhiên cũng có thể có sự trì trệ của những nhà chế biến quen ỷ lại các cơ quan quản lý, các thanh tra viên và các phòng thí nghiệm có sẵn của Nhà nước.

Ngoài ra, cũng có thể dẫn đến một nhận thức rằng HACCP làm giảm vai trò thanh tra giám sát và làm mất đi sự kiểm soát của cơ quan chấp pháp.

Ở đây, tôi muốn nói thêm về sự đồng thuận xã hội đối với mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng. Việc này chỉ có thể thực hiện tốt khi các nhà quản lý đưa ra được những quyết sách đúng đắn dựa trên một bên là sự bức xúc về những vấn đề nóng trong dư luận xã hội và đòi hỏi nhiều khi quá khắt khe của thị trường nhập khẩu và một bên là các đánh giá có cơ sở khoa học của các nhà chuyên môn. Thường kết luận chuyên môn chậm trễ và có thể nói là yếu trọng lượng hơn nhiều so với sự lan truyền xã hội các gay cấn về chất lượng.

Rõ ràng, các hệ thống HACCP được xây dựng chu đáo dựa trên sự đồng thuận xã hội sẽ giúp ích nhiều nhất cho mục đích bảo vệ người tiêu dùng.

TS. Tạ Quang Ngọc – Nguyên Bộ trưởng Bộ Thủy sản

Chat luong Viet, Chất lượng Việt

 

Các dịch vụ khác  
093 252 1368
 
Tel/Fax:    0236 393 1368
 
Email: tuvanchatluongviet@gmail.com
 
 
TIN CHUYÊN NGÀNH  
Kết nối facebook  
Số lượt truy cập  
  Đang Online: 3 Tổng lượt truy cập: 975657
Liên kết website  
CÁC ĐỐI TÁC ĐANG VÀ ĐÃ HỢP TÁC CỦA CHẤT LƯỢNG VIỆT  
Chứng nhận ISO 9001: 2015 | Mục đích của hệ thống quản lý môi trường ISO 14001 | Vì sao cần phải truy xuất nguồn gốc sản phẩm? | Truy xuất nguồn gốc điện tử: Tăng sức cạnh tranh cho nông sản | Kosher - Lối ăn uống thú vị của người Do Thái | Kaizen la gì? Lợi ích khi áp dụng Kaizen | Nguyên tắc cơ bản khi áp dụng công cụ LEAN trong doanh nghiệp | Tư vấn chứng nhận GlobalGAP cho rau cải xoăn | So sánh giữa HACCP, ISO 22000, FSSC 22000 | Bạn có sẵn sàng thực hiện áp dụng HACCP? | Các Tiêu Chuẩn Nông Nghiệp Hữu Cơ Nhật Bản | Tiêu Chuẩn JAS - Tiêu Chuẩn Hữu Cơ Nhật Bản | Khảo nghiệm và công nhận phân bón lưu hành | Kiểm tra chất lượng phân bón nhập khẩu và công bố hợp quy | ISO 22000: 2018 phiên bản được nâng cấp từ ISO 22000: 2005 | Chứng nhận hợp quy kính gương tráng bạc | Chứng Nhận Hợp Quy Dệt May | Chuyển đổi hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000: 2005 sang ISO 22000: 2018 | Thủ tục thành lập công ty TNHH MTV | SSOP - Quy trình vận hành tiêu chuẩn vệ sinh | Nội dung bắt buộc thể hiện trên nhãn hàng hóa | Cơ sở đủ điều kiện ATTP đạt yêu cầu GMP | Tư vấn, chứng nhận VietGAP chăn nuôi lợn rừng | Tư vấn, chứng nhận VietGAP chăn nuôi bò sữa | Tư vấn, chứng nhận VietGAP chăn nuôi ong mật | Phương pháp thực hiện 5S mỗi ngày | Tại sao 5S luôn có mặt cùng thành công của Doanh nghiệp | Tư vấn, chứng nhận VietGAP cho cá rô phi | Tư vấn, chứng nhận VietGAP cho tôm sú | Cách trồng cà rốt hữu cơ | Kỹ thuật trồng và chăm sóc rau xà lách hữu cơ | ISO 9001: 2008 sắp hết hiệu lực | Chứng nhận hợp quy thức ăn chăn nuôi cho gà | Tư vấn chứng nhận GlobalGAP cho tôm thẻ chân trắng | Hiệp hội 4C ra mắt bộ quy tắc mới về tiêu chuẩn cà phê bền vững | Chứng nhận 4C cho cà phê | Vì sao 4C giúp gia tăng thu nhập cho tất cả các thành viên trong chuỗi cà phê | Cà phê 4C và 10 quy tắc thực hành không được chấp nhận | Tìm hiểu về thực phẩm Halal | Sự khác nhau giữa ISO 22000 và HACCP | Áp dụng GMP cho các công ty sản xuất chế biến thực phẩm | Doanh nghiệp nào cần áp dụng FSSC 22000? | Ý nghĩa và yêu cầu của tiêu chuẩn Organic | Quy trình chăn nuôi lợn theo tiêu chuẩn USDA | Tự công bố Bắp cải sấy khô | Xem xét của lãnh đạo theo ISO 13485 | CÁCH Ủ PHÂN HỮU CƠ VI SINH TỪ BÁNH DẦU | Tại sao nguời Hồi giáo không ăn thịt lợn? | Tiêu chuẩn mới ISO 45001: 2018 về quản lý an toàn sức khỏe nghề nghiệp | Cần làm gì để chuyển đổi từ OHSAS 18001 sang ISO 45001? | Các lợi ích của doanh nghiệp khi áp dụng tiêu chuẩn ISO 14001 | Hệ thống quản lý nội bộ trong thực hành và chứng nhận UTZ | Cà phê bền vững và các chứng nhận giúp Doanh nghiệp vươn ra quốc tế | 10 yếu tố chính của hệ thống quản lý nội bộ (IMS) trong tiêu chuẩn UTZ | Tư vấn chứng nhận VietGAP cá diêu hồng | Chứng nhận hợp chuẩn kính cường lực | Công bố chất lượng mít sấy | Công bố hợp chuẩn gạch terrazzo | Chứng nhận FSC - CoC cho bao bì giấy | Chứng nhận FSC cho viên nén gỗ | Thủ tục nhập khẩu phân bón | Chứng nhận ISO 13485 | Chứng nhận hợp quy ống nhựa Polypropylen (PP) | Chứng nhận hợp quy ống nhựa Polyetylen | Chứng nhận hợp quy xi măng | Chứng nhận hợp quy gạch đất sét nung (gạch tuynel) | Chứng nhận hợp quy gạch bê tông | Thông tin Doanh Nghiệp xuất khẩu hoa quả sang Trung Quốc cần lưu ý | Chính sách khuyến khích, chế tạo thiết bị gạch không nung | Phân biệt Tiêu chuẩn VietGAP mới và Quy trình VietGAP cũ | ISO 45001:2016 - Tiêu chuẩn quốc tế mới cho hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp | Làm sao để được phép sản xuất thực phẩm mà không cần giấy chứng nhận ATTP? | Điểm mới của nghị định 15/2018/NĐ-CP về Luật ATTP | Công bố hợp quy sơn tường dạng nhũ tương | Chứng nhận VietGAP Bưởi Diễn | Chứng nhận hợp chuẩn bê tông tươi | Truy xuất nguồn gốc điện tử: Niềm tin cho thực phẩm sạch | Tư Vấn Chứng Nhận VietGAP Chăn Nuôi Gà | Công bố hợp quy khuôn làm kẹo mút | Thâm canh nhãn theo quy trình VietGAP | Truy xuất nguồn gốc hàng hóa có ý nghĩa gì? | Các đối tượng áp dụng FSC | Xác định các mối nguy theo tiêu chuẩn HACCP | Tư vấn, chứng nhận VietGAP chăn nuôi dê sữa | Tư vấn, chứng nhận GlobalGAP dừa xiêm | Chứng nhận hợp quy máy uốn tóc | Lưu trữ, sắp xếp hồ sơ theo ISO 9001 | Chứng nhận GlobalGAP măng cụt | Chứng nhận GlobalGAP Nho | Chứng nhận GlobalGAP dưa lưới | Chứng nhận GlobalGAP măng tây | Công bố chất lượng mì gói | Công bố hợp quy đường tinh luyện | Chứng nhận hợp quy máy sấy tóc | Công bố chất lượng cafe | Công bố chất lượng sứa đóng gói | Tư vấn, chứng nhận FSC | Tư vấn, chứng nhận SA 8000 | Tư vấn, chứng nhận OHSAS 18001 | Tư vấn, Chứng nhận ISO 13485 | Quy trình chứng nhận thực phẩm hữu cơ theo tiêu chuẩn USDA | ISO 17025 LÀ GÌ? | Một số câu hỏi chính liên quan đến phiên bản mới tiêu chuẩn ISO 9001 và ISO 14001 | 7 Nguyên tắc quản lý chất lượng của ISO 9001:2015 | Công bố hợp chuẩn bột giặt | Vai trò lãnh đạo trong hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 | Công bố chất lượng dầu hạt cải | Chứng nhận VietGAP cho Mãng cầu Xiêm | Công Bố Chất Lượng Mực Lá Đông Lạnh | Công bố tiêu chuẩn cơ sở cho sơn PU | Chứng nhận VietGAP Mướp đắng | Công bố chất lượng giò thủ | Chứng nhận VietGAP mận | Chứng nhận VietGAP Chanh | Công bố chất lượng đầu hạt nho | Chứng Nhận VietGAP Nho | Chứng nhận VietGAP lựu | Chứng nhận VietGAP hồng giòn | Chứng nhận VietGAP Chanh Dây | Chứng nhận VietGAP cho Hồng xiêm | Công bố chất lượng bột ngũ cốc | Công bố chất lượng kem | chứng nhận VietGAP đu đủ | Chứng Nhận VietGAP Cho Mãng Cầu | Công bố chất lượng kim chi | Chứng nhận hợp quy cửa nhựa lõi thép | Chứng nhận hợp quy cửa Nhôm | Chứng nhận VietGAP ổi | Công bố chất lượng bánh phồng tôm | Những điểm thay đổi của ISO 9001:2015 so với phiên bản ISO 9001:2008 | Chứng nhận VietGAP măng cụt | Chứng nhận VietGAP Dưa Hấu | Tư vấn, chứng nhận BRC | Chứng nhận VietGAP dâu tây | Chứng nhận VietGAP Chuối | Công bố hợp quy muối ăn, muối Iod | Chứng nhận VietGAP cho dừa sáp | công bố hợp quy bia | Chứng nhận VietGAP măng tây | Công bố chất lượng Sô cô la | Công bố mỹ phẩm nhập khẩu từ Nhật Bản | Chứng nhận hợp quy ván gỗ nhân tạo, ván MDF | Chứng nhận hợp quy xi măng | Chứng nhận VietGAP cá tra | chứng nhận VietGAP mít | Chứng nhận hợp quy nhóm kính xây dựng | Công bố chất lượng phấn mắt, son môi | Công bố chất lượng sơn móng tay nhập khẩu | Công bố hợp quy với đồ uống không cồn | Công bố chất lượng nước cốt dừa | Công bố chất lượng bánh khô mè | công bố chất lượng mỹ phẩm nhập khẩu | Chứng nhận VietGAP cho ngan( Vịt xiêm) | Chứng nhận VietGAP bưởi da xanh | Chứng nhận hợp quy nhóm gạch xây dựng | Công bố chất lượng kẹo đậu phộng | Quy trình ủ phân compost – Phân hữu cơ | Kỹ thuật trồng và chăm sóc cây na (mãng cầu) | Chứng nhận UTZ | Chứng nhận hợp quy gạch Terrazzo | Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất mỹ phẩm | Chứng nhận Halal | Tìm hiểu thị trường của người hồi giáo | Phân tích một số điểm thay đổi lớn của ISO 9001:2015 (Phần 1) | Kỹ thuật nuôi vịt trời | Công bố hợp quy với đồ uống có cồn | Chỉ dẫn địa lý là gì? | Thủ tục đăng ký chỉ dẫn địa lý | Công bố mỹ phẩm sản xuất trong nước | Chứng nhận hợp quy vật liệu xây dựng | Kỹ thuật nuôi cá trong ao | Kỹ thuật nuôi thỏ trắng New Zealand | Kỹ thuật chăm sóc lan hồ điệp | Kỹ thuật trồng gừng năng suất cao | Kỹ thuật chăn nuôi gà thả vườn theo hướng An toàn sinh học | Đăng ký mã số mã vạch cho sản phẩm | Tìm hiểu về “mã số mã vạch” | Cách tra mã vạch trên sản phẩm | Danh mục mã vạch các nước | Dịch vụ đăng ký Sở hữu trí tuệ | Dịch vụ về sở hữu trí tuệ | Đăng ký bảo hộ thương hiệu nhãn hiệu tập thể | Đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan | Thủ tục cấp Nhãn năng lượng | Quy trình dán nhãn năng lượng | Công bố chất lượng sản phẩm thực phẩm | Giấy phép vệ sinh an toàn thực phẩm trực tuyến | Công bố chất lượng bánh flan | Công bố tiêu chuẩn chất lượng hạt điều | Công bố chất lượng nguyên liệu trà sữa | Công bố chất lượng nước uống mủ trôm | Đăng ký nhãn hiệu độc quyền | Đăng ký kiểu dáng công nghiệp | Chứng nhận hợp quy phân bón hữu cơ và phân bón khác | Giấy phép sản xuất phân bón | Thủ tục cấp Giấy phép sản xuất phân bón | Hồ sơ xin cấp giấy phép sản xuất phân bón vô cơ | Hồ sơ xin cấp giấy phép sản xuất phân bón hữu cơ | Chứng nhận hợp quy phân bón vô cơ | Chứng nhận VietGAP thủy sản | Hợp quy giống cây trồng | Hợp quy thực phẩm | Chứng nhận/công bố hợp chuẩn | Chứng nhận ISO 22000/HACCP | Hợp quy thuốc bảo vệ thực vật | Chứng nhận ISO 14001, ISO 14001:2004 | Chứng nhận VietGAP chăn nuôi | GlobalG.A.P | Hợp quy thức ăn chăn nuôi | HACCP | Chứng nhận/Công bố hợp quy phân bón | Chứng nhận ISO 9001, ISO 9001:2008 | Chứng nhận VietGAP trồng trọt |
CÔNG TY TNHH TƯ VẤN VÀ ĐÀO TẠO CHẤT LƯỢNG VIỆT
Địa chỉ: Số 10 Phan Bá Phiến, Phường Thọ Quang, Quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng
Điện thoại: 0236 393 1368  *  Fax: 0236 393 1368

Chi nhánh HCM: Số 316 Lê Văn Sỹ, Phường 1, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
Điện thoại / Zalo: 093 252 1368
Email: tuvanchatluongviet@gmail.com 

 

Copyright © 2015 Công Ty TNHH Tư Vấn Và Đào Tạo Chất Lượng Việt